Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Công văn Số: 2234/TCT-KK V/v: hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu sau đó tái xuất trả lại người bán

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 2234/TCT-KK
V/v: hoàn  thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu sau đó tái xuất trả lại người bán
Hà Nội, ngày 16  tháng 06 năm 2014

Dịch vụ tư vấn thuế trọn gói

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh

Trả lời công văn số 987/CT-KTT ngày 06/5/2014 của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh về việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng hoá nhập khẩu sau đó tái xuất trả lại, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ hướng dẫn tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế giá trị gia tăng.
Căn cứ Điều 7 và Điều 13 Thông tư số 150/TT-BTC ngày 29/10/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lập, quản lý và việc thực hiện từ quỹ hoàn thuế GTGT.
Căn cứ hướng dẫn tại công văn số 1350/TCT-KK ngày 23/4/2014 của Tổng cục Thuế về việc hoàn thuế GTGT khâu nhập khẩu nộp thừa.
Căn cứ hướng dẫn tại công văn số 5554/TCHQ-TXNK ngày 19/5/2014 của Tổng cục Hải quan về việc hoàn thuế GTGT hàng nhập khẩu nộp thừa.
Căn cứ các hướng dẫn nêu trên, trường hợp nguyên vật liệu hoặc máy móc, thiết bị, tài sản cố định nhập khẩu để dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT nhưng không đảm bảo chất lượng, tái xuất khẩu trả lại nhà cung cấp nước ngoài thì không được khấu trừ thuế GTGT. Số thuế GTGT đã nộp khâu nhập khẩu của nguyên vật liệu hoặc máy móc, thiết bị, tài sản cố định nhập khẩu đã tái xuất là số thuế GTGT nộp thừa khâu nhập khẩu không được chi hoàn từ Quỹ hoàn thuế GTGT.
Đề nghị Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh thực hiện hướng dẫn người nộp thuế:
+ Nộp hồ sơ hoàn thuế GTGT khâu nhập khẩu nộp thừa tại cơ quan hải quan nơi người nộp thuế mở tờ khai hải quan hoặc quản lý khoản thuế GTGT nộp thừa khâu nhập khẩu để được hoàn trả số thuế GTGT nộp thừa khâu nhập khẩu theo quy định.
+ Kê khai điều chỉnh số thuế GTGT đã được cơ quan hải quan hoàn nhưng đã kê khai,  khấu trừ hoặc nộp lại số tiền thuế đã được hoàn thuế nội địa trước đó vào quỹ hoàn thuế GTGT.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh biết./.

Nơi nhận:
- Như trên
- Vụ PC; CS - TCT;
- Lưu: VT, KK (3)
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Trần Văn Phu

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Công văn Số: 2085/TCT-HTQT V/v áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam - Thái Lan

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
--------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------
Số: 2085/TCT-HTQT
V/v áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam - Thái Lan.
Hà Nội, ngày 05 tháng 06 năm 2014

Kính gửi: Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Thiết kế Chuo Senko Việt Nam.
Tiếp theo công văn số 1686/TCT-HTQT ngày 13/5/2014 trả lời Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Thiết kế Chuo Senko Việt Nam (sau đây gọi là CSV) về việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Thái Lan (sau đây gọi là Hiệp định), căn cứ ý kiến của Cục Bản quyền tác giả tại công văn số 128/BQTG-TTHTQT ngày 27/5/2014, Tổng cục Thuế có ý kiến về nghĩa vụ thuế của Công ty TNHH Đại chúng Chuo Senko Thái Lan (sau đây gọi là CST) đối với Hợp đồng dịch vụ (Services Agreement) ngày 01/4/2008 giữa CSV và CST (sau đây gọi là Hợp đồng) để sản xuất phim quảng cáo như sau:
1. Quy định tại Hiệp định
Khoản 1, 2 và 3, Điều 12 (Tiền bản quyền) của Hiệp định quy định:
“1. Tiền bản quyền phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể phải chịu thuế tại Nước kia.
2. Tuy nhiên, những khoản tiền bản quyền đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi phát sinh và theo luật của Nước này nhưng nếu người nhận là người thực hưởng thì mức thuế được tính sẽ không vượt quá 15% tổng số tiền bản quyền được trả.
3. Thuật ngữ “tiền bản quyền” được sử dụng trong Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán ở bất kỳ dạng nào được trả cho việc sử dụng, hoặc quyền sử dụng, bản quyền tác giả của một tác phẩm văn học, nghệ thuật hay khoa học, kể cả phim điện ảnh hoặc các loại phim khác hoặc các loại băng dùng trong phát thanh và truyền hình, bằng phát minh, nhãn hiệu thương mại, thiết kế hoặc mẫu, đồ án, công thức hoặc quy trình bí mật hoặc quyền sử dụng hoặc việc sử dụng thiết bị công nghiệp, thương nghiệp hoặc khoa học, hay trả cho thông tin liên quan đến các kinh nghiệm công nghiệp, thương nghiệp hoặc khoa học.”
2. Quy định tại Hợp đồng
Điểm 5 (trang 5) của Hợp đồng quy định về quyền sở hữu trí tuệ như sau:
“CST và CSV:
(a) thỏa thuận rằng tất cả các quyền sở hữu trí tuệ và bất kỳ giá trị vật chất nào được tạo ra trong quá trình cung cấp các Dịch vụ sẽ thuộc về HVN; và
(b) thừa nhận rằng tất cả các quyền sở hữu trí tuệ trong tương lai theo khoản (a) sẽ thuộc về (vests in) HVN kể từ ngày nó được tạo ra.”
Theo quy định nêu trên, tất cả các quyền sở hữu trí tuệ và bất kỳ giá trị vật chất nào được tạo ra trong quá trình cung cấp các Dịch vụ sẽ thuộc về HVN hay tất cả các quyền sở hữu trí tuệ trong tương lai sẽ thuộc về (vests in) HVN kể từ ngày nó được tạo ra.
Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2, Điều 39, Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và Khoản 3, Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong khi đó, giữa CST và HVN không có thỏa thuận nào về việc HVN là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các đĩa CD quảng cáo. Đồng thời, tại các bản báo giá do CSV cung cấp mà theo CSV có thể xem như hợp đồng dịch vụ ký giữa HVN và CSV không có thỏa thuận nào về việc HVN là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các đĩa CD quảng cáo.
Căn cứ các nội dung nêu trên, không có cơ sở để khẳng định HVN là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các đĩa CD quảng cáo.
Do đó, các khoản phí sản xuất phim quảng cáo và phí dịch vụ mà CSV phải trả CST (sau đó HVN sẽ trả cho CSV theo hóa đơn của CSV) chính là các khoản phí trả cho quyền sử dụng các đĩa CD quảng cáo, và cũng không phải trả cho quyền sở hữu các đĩa CD quảng cáo do CST sản xuất.
Như vậy, căn cứ theo quy định tại Khoản 3, Điều 12 (Tiền bản quyền) của Hiệp định nêu trên, khoản thanh toán do CSV trả cho CST là khoản thanh toán trả cho quyền sử dụng các loại phim hoặc các loại băng dùng trong phát thanh và truyền hình (đĩa CD quảng cáo sản phẩm xe Honda hai bánh trên truyền hình), và được coi là thu nhập từ tiền bản quyền.
Đồng thời, căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 12 của Hiệp định, thu nhập nêu trên thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam với mức thuế suất không vượt quá 15% tổng số tiền bản quyền được trả.
Tổng cục Thuế thông báo CSV biết để thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Lãnh đạo Bộ (để báo cáo);
- Vụ PC (Bộ TC);
- Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh;
- Các Vụ: CS, DNL, PC - TCT;
- Website TCT;
- Lưu: VT, HTQT (2b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Lê Hồng Hải


Công văn Số: 2041/TCT-DNL V/v: chính sách thuế đối với tài sản đảm bảo là bất động sản khi chuyển nhượng, kê khai, nộp thuế

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 2041/TCT-DNL
V/v: chính sách thuế đối  với tài sản đảm bảo là bất động sản khi chuyển nhượng, kê khai, nộp thuế
Hà Nội, ngày 03 tháng 06 năm 2014


Kính gửi: Cục Thuế Thành phố Hà Nội.

Trả lời công văn số 50459/CT-HTr ngày 17/12/2013 của Cục Thuế TP Hà Nội đề nghị hướng dẫn về một số vướng mắc về chính sách thuế đối với tài sản đảm bảo là bất động sản khi chuyển nhượng, kê khai, nộp thuế. Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1.Về việc lập hóa đơn
Khoản 8a Điều 4 Chương I Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT:
“... Trường hợp hết thời gian trả nợ, người có tài sản bảo đảm không có khả năng trả nợ và phải bàn giao tài sản cho tổ chức tín dụng để tổ chức tín dụng xử lý tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của pháp luật thì các bên thực hiện thủ tục bàn giao tài sản bảo đảm theo quy định.
Trường hợp các bên thỏa thuận người có tài sản bảo đảm tự bán tài sản bảo đảm để trả nợ, nếu người có tài sản bảo đảm là người nộp thuế GTGT và tài sản đem bán thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định.
Trường hợp tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tổ chức tín dụng thực hiện hạch toán tăng giá trị tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh theo quy định. Khi tổ chức tín dụng bán tài sản phục vụ hoạt động kinh doanh nếu tài sản thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì tổ chức tín dụng phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định."
Căn cứ quy định nêu trên, nếu hết thời gian trả nợ mà người có tài sản bảo đảm không có khả năng trả nợ và phải bàn giao tài sản cho tổ chức tín dụng; Tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ hoặc thực hiện hạch toán tăng giá trị tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh thì người có tài sản đảm bảo thực hiện thủ tục bàn giao tài sản và không phải xuất hóa đơn GTGT.
2.Về kê khai, khấu trừ thuế GTGT
Tiết a Điểm 2 Điều 3 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật thuế GTGT quy định về đối tượng không chịu thuế trong đó có "Bán tài sản đảm bảo tiền vay"
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp tổ chức tín dụng khi nhận tài sản, bất động sản là tài sản đảm bảo tiền vay để xử lý các khoản nợ vay, khi hạch toán sử dụng làm TSCĐ hoặc bán, chuyển nhượng thu tiền thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định.
3.Xác định giá vốn của bất động sản
Trường hợp nhận lại chính tài sản bảo đảm:
Giá vốn của bất động sản là tài sản đảm bảo tiền vay là giá thỏa thuận giữa hai bên và được xác định tại thời điểm chuyển giao bất động sản cho tổ chức tín dụng.
Đối với bất động sản của cá nhân thì thực hiện theo Khoản 5 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Trường hợp tổ chức tín dụng bán, chuyển nhượng bất động sản là tài sản đảm bảo để thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì giá vốn của bất động sản là giá theo thỏa thuận giữa hai bên.
4. Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản đảm bảo tiền vay là bất động sản
Thống nhất với ý kiến xử lý của Cục Thuế Thành phố Hà Nội nêu tại công văn số 50459/CT-HTr ngày 17/12/2013 nêu trên để đảm bảo thực hiện theo quy định tại Điều 6 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế TP Hà Nội biết và thực hiện./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ PC, CS - TCT;
- Lưu: VT, TCT (VT,DNL) (3b)
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Cao Anh Tuấn


Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Công văn Số: 1880/TCT-TNCN V/v hồ sơ hoàn thuế TNCN

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 1880/TCT-TNCN
V/v hồ sơ hoàn thuế TNCN
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2014

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Nam Định
Trả lời công văn số 1156/CT-TNCN ngày 23/4/2014 của Cục Thuế tỉnh Nam Định về việc nộp hồ sơ hoàn thuế thu nhập cá nhân, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Điểm b.2 Khoản 6 Điều 14 Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/2/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ quy định:
“Hồ sơ khai thuế toán thuế.
- Tờ khai quyết toán thuế theo mẫu số 09/KK-TNCN, phụ lục theo mẫu số 09A/PL-TNCN, phụ lục theo mẫu số 09C/PL-TNCN (nếu đã đăng ký giảm trừ gia cảnh) ban hành kèm theo Thông tư này.
- Bản chụp các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm và cá nhân ký cam kết chịu trách nhiệm vào bản chụp đó.
- … Trường hợp cá nhân nhận thu nhập từ các tổ chức quốc tế, Đại sứ quán, Lãnh sự quán và nhận thu nhập từ nước ngoài phải có tài liệu chứng minh hoặc xác nhận về số tiền đã trả của đơn vị, tổ chức trả thu nhập ở nước ngoài và kèm theo thư xác nhận thu nhập theo mẫu số 20/TXN-TNCN ban hành kèm theo Thông từ này”.
Trường hợp bà Trần Thị Bích Thủy, trong năm 2013 có khai quyết toán thuế TNCN kèm đề nghị hoàn tại Cục Thuế tỉnh Nam Định, trong đó có số thuế TNCN đã được tổ chức trả thu nhập (Công ty TNHH linh kiện điện tử Sanyo OPT) khấu trừ trong năm nhưng không cấp chứng từ khấu trừ. Đến nay, tổ chức trả thu nhập đã giải thể, thanh quyết toán chứng từ khấu trừ nên không thể cấp lại chứng từ khấu trừ cho bà. Bà Trần Thị Bích Thủy không cung cấp được bản chụp các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm nên không được tính số thuế đã khấu trừ khi quyết toán thuế TNCN theo quy định nêu trên.
Tuy nhiên, căn cứ báo cáo của Cục Thuế tỉnh Nam Định tại công văn số 1156/CT-TNCN ngày 23/4/2014: hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2013 của tổ chức trả thu nhập (Công ty TNHH linh kiện điện tử Sanyo OPT) cũng như dữ liệu trên hệ thống tncnonline đã thể hiện số thuế TNCN đã khấu trừ của bà Trần Thị Bích Thủy. Do đó, Tổng cục Thuế thống nhất với ý kiến xử lý của Cục Thuế tỉnh Nam Định nêu tại công văn số 1156/CT-TNCN ngày 23/4/2014, đề nghị Cục Thuế tỉnh Nam Định xem xét cụ thể hồ sơ và giải quyết hoàn thuế TNCN của bà Trần Thị Bích Thủy.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ PC;
- Lưu: VT, TNCN.
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Cao Anh Tuấn